Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng vay nước ngoài sẽ bị kiểm soát chặt chẽ

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã có giải trình một số vấn đề liên quan đến ngân sách trong phiên họp Quốc hội chiều nay (29/10).

Theo ông, chỉ tiêu nợ nước ngoài đã sát ngưỡng cho phép 50% GDP. Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, nợ nước ngoài quốc gia bao gồm: nợ nước ngoài của Chính phủ chủ yếu là vay ODA, vay ưu đãi cho các chương trình và dự án, các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp và của tổ chức tín dụng.

Đối với nợ nước ngoài của Chính phủ, theo Bộ trưởng, thời gian qua, Chính phủ đã tích cực cơ cấu lại theo hướng giảm dần tỷ trọng từ 60% năm 2011 xuống còn khoảng 40% vào cuối năm 2018. Theo đó, tỷ lệ nợ nước ngoài của Chính phủ giảm từ mức 24% GDP vào cuối năm 2011 xuống còn 21% GDP của giai đoạn 2016-2018.

Đối với nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh, Bộ trưởng cho biết đã hạn chế cấp bảo lãnh cho các dự án mới. Nhờ vậy, dư nợ được Chính phủ bảo lãnh giảm từ mức 10,9% GDP năm 2015 xuống còn 8,7% GDP năm 2018.

Trong đó, bảo lãnh nước ngoài giảm từ mức 5,9% GDP vào cuối năm 2015 xuống còn khoảng 5% GDP vào cuối năm 2018.

Việc giải ngân lại tăng lên 2.000 tỷ được Bộ trưởng giải thích của các khoản bảo lãnh trước năm 2018, “chúng ta tiếp tục giải ngân năm 2018 cơ bản chúng ta không cấp bảo lãnh mới”, ông nói.

Riêng đối với nợ nước ngoài, tự vay, tự trả của doanh nghiệp, ông cho biết hiện chiếm khoảng 50% tổng nợ nước ngoài của quốc gia. Khoản nợ này đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây và là nguyên nhân chính dẫn đến gia tăng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, theo Bộ trưởng Dũng.

Tính riêng năm 2017, nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp tăng tới 42%, trong đó có khoản vay của công ty Việt Nam Beverage trị giá 4,8 tỷ đô la để mua cổ phần của Sabeco.

Trước thực trạng trên, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.

Đồng thời, các chính sách điều hành phải thực hiện đồng bộ với các giải pháp khác nhằm quản lý chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia trong giới hạn cho phép.

“Phải hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới. Không bảo lãnh cho doanh nghiệp để vay vốn nước ngoài và không sử dụng nguồn Chính phủ vay về để cho doanh nghiệp vay lại. Không sử dụng ngân sách nhà nước để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu của ngân hàng và cấp vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng thương mại”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng vay nước ngoài sẽ bị kiểm soát chặt chẽ

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã có giải trình một số vấn đề liên quan đến ngân sách trong phiên họp Quốc hội chiều nay (29/10).

Theo ông, chỉ tiêu nợ nước ngoài đã sát ngưỡng cho phép 50% GDP. Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, nợ nước ngoài quốc gia bao gồm: nợ nước ngoài của Chính phủ chủ yếu là vay ODA, vay ưu đãi cho các chương trình và dự án, các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp và của tổ chức tín dụng.

Đối với nợ nước ngoài của Chính phủ, theo Bộ trưởng, thời gian qua, Chính phủ đã tích cực cơ cấu lại theo hướng giảm dần tỷ trọng từ 60% năm 2011 xuống còn khoảng 40% vào cuối năm 2018. Theo đó, tỷ lệ nợ nước ngoài của Chính phủ giảm từ mức 24% GDP vào cuối năm 2011 xuống còn 21% GDP của giai đoạn 2016-2018.

Đối với nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh, Bộ trưởng cho biết đã hạn chế cấp bảo lãnh cho các dự án mới. Nhờ vậy, dư nợ được Chính phủ bảo lãnh giảm từ mức 10,9% GDP năm 2015 xuống còn 8,7% GDP năm 2018.

Trong đó, bảo lãnh nước ngoài giảm từ mức 5,9% GDP vào cuối năm 2015 xuống còn khoảng 5% GDP vào cuối năm 2018.

Việc giải ngân lại tăng lên 2.000 tỷ được Bộ trưởng giải thích của các khoản bảo lãnh trước năm 2018, “chúng ta tiếp tục giải ngân năm 2018 cơ bản chúng ta không cấp bảo lãnh mới”, ông nói.

Riêng đối với nợ nước ngoài, tự vay, tự trả của doanh nghiệp, ông cho biết hiện chiếm khoảng 50% tổng nợ nước ngoài của quốc gia. Khoản nợ này đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây và là nguyên nhân chính dẫn đến gia tăng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, theo Bộ trưởng Dũng.

Tính riêng năm 2017, nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp tăng tới 42%, trong đó có khoản vay của công ty Việt Nam Beverage trị giá 4,8 tỷ đô la để mua cổ phần của Sabeco.

Trước thực trạng trên, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.

Đồng thời, các chính sách điều hành phải thực hiện đồng bộ với các giải pháp khác nhằm quản lý chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia trong giới hạn cho phép.

“Phải hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới. Không bảo lãnh cho doanh nghiệp để vay vốn nước ngoài và không sử dụng nguồn Chính phủ vay về để cho doanh nghiệp vay lại. Không sử dụng ngân sách nhà nước để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu của ngân hàng và cấp vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng thương mại”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

Doanh nghiệp, tổ chức tín dụng vay nước ngoài sẽ bị kiểm soát chặt chẽ

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã có giải trình một số vấn đề liên quan đến ngân sách trong phiên họp Quốc hội chiều nay (29/10).

Theo ông, chỉ tiêu nợ nước ngoài đã sát ngưỡng cho phép 50% GDP. Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, nợ nước ngoài quốc gia bao gồm: nợ nước ngoài của Chính phủ chủ yếu là vay ODA, vay ưu đãi cho các chương trình và dự án, các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp và của tổ chức tín dụng.

Đối với nợ nước ngoài của Chính phủ, theo Bộ trưởng, thời gian qua, Chính phủ đã tích cực cơ cấu lại theo hướng giảm dần tỷ trọng từ 60% năm 2011 xuống còn khoảng 40% vào cuối năm 2018. Theo đó, tỷ lệ nợ nước ngoài của Chính phủ giảm từ mức 24% GDP vào cuối năm 2011 xuống còn 21% GDP của giai đoạn 2016-2018.

Đối với nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh, Bộ trưởng cho biết đã hạn chế cấp bảo lãnh cho các dự án mới. Nhờ vậy, dư nợ được Chính phủ bảo lãnh giảm từ mức 10,9% GDP năm 2015 xuống còn 8,7% GDP năm 2018.

Trong đó, bảo lãnh nước ngoài giảm từ mức 5,9% GDP vào cuối năm 2015 xuống còn khoảng 5% GDP vào cuối năm 2018.

Việc giải ngân lại tăng lên 2.000 tỷ được Bộ trưởng giải thích của các khoản bảo lãnh trước năm 2018, “chúng ta tiếp tục giải ngân năm 2018 cơ bản chúng ta không cấp bảo lãnh mới”, ông nói.

Riêng đối với nợ nước ngoài, tự vay, tự trả của doanh nghiệp, ông cho biết hiện chiếm khoảng 50% tổng nợ nước ngoài của quốc gia. Khoản nợ này đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây và là nguyên nhân chính dẫn đến gia tăng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, theo Bộ trưởng Dũng.

Tính riêng năm 2017, nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp tăng tới 42%, trong đó có khoản vay của công ty Việt Nam Beverage trị giá 4,8 tỷ đô la để mua cổ phần của Sabeco.

Trước thực trạng trên, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.

Đồng thời, các chính sách điều hành phải thực hiện đồng bộ với các giải pháp khác nhằm quản lý chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia trong giới hạn cho phép.

“Phải hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới. Không bảo lãnh cho doanh nghiệp để vay vốn nước ngoài và không sử dụng nguồn Chính phủ vay về để cho doanh nghiệp vay lại. Không sử dụng ngân sách nhà nước để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu của ngân hàng và cấp vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng thương mại”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

Có một con số tôi bấm nút tính thấy hơi lo!

Trong phiên thảo luận tại Nghị trường chiều nay, 29/10, về tình hình ngân sách nhà nước, TS. Trần Hoàng Ngân, đại biểu đoàn TP. HCM đánh giá Việt Nam trong những năm qua đã rất thành công trong việc tăng tổng vốn đầu tư xã hội, từ 31,7%/GDP lên 334%/GDP năm 2018.

“Trong tổng vốn đầu tư xã hội chúng ta cũng định hướng và chuyển hướng tốt ở chỗ, chúng ta giảm dần đầu tư khu vực nhà nước”, ông nói.

Theo đó, khu vực nhà nước trước đây chiếm 38% thì nay chỉ chiếm khoảng 34%. Trong nguồn vốn của khu vực nhà nước thì vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng cao, ở mức 20% trong tổng vốn đầu tư xã hội.

“Tuy nhiên chúng tôi thấy một điều, trong tình hình hiện nay nguồn thu ngân sách quả thật là khó khăn và chúng ta đã đề cập đến thu nội địa trong hai năm qua có xu hướng không đạt so với dự toán”, ông cho biết.

Tuy nhiên, ông nói rằng Quốc hội và Chính phủ khi quyết định nghị quyết về dự toán ngân sách vẫn dành một nguồn rất lớn cho đầu tư phát triển. Do vậy, cơ cấu trong đầu tư hiện nay cũng có sự thay đổi.

Đầu tư phát triển từ ở mức dưới 21% đã lên đến con số trên 26% trong tổng chi ngân sách nhà nước. “Đây là một chiều hướng tích cực”, ông nhận xét.

Ngành tài chính cũng như Quốc hội đã giám sát thực hiện được điều này, nhờ vậy, bội chi ngân sách đạt dưới 3,6% và nợ công cũng được kiểm soát.

“Nhưng có một con số trưa nay ngồi bấm nút tính tôi thấy hơi lo”, ông Hoàng Ngân nói.

Theo đó, nợ mà Việt nam phải trả tiền lãi vay và nợ gốc đến hạn hiện nay đang cao dần. Năm 2016 là 175.784 tỷ, năm 2017 là 255.000 tỷ, năm 2018 là 269.000 tỷ và năm 2019 ước là 326.042 tỷ.

Như vậy thì nợ đáo hạn phải vay để trả thường được biết dưới tên gọi là đảo nợ có xu hướng ngày càng tăng.

Cho nên mặc dù Việt Nam giữ được mức trần là nợ công/GDP dưới 65% GDP, giữ được mức nợ Chính phủ là 52%, nợ nước ngoài thì đang sát trần nhưng khả năng trả nợ và nợ đến hạn đang ngày càng tăng.

“Chúng tôi nghĩ rằng trong thời gian tới, Chính phủ cũng như Quốc hội phải hết sức thận trọng trong việc lựa chọn dự án nào, ưu tiên dự án nào để chúng ta đầu tư”, vị đại biểu này lưu ý.

Ông nhấn mạnh “đồng tiền đang rất khó khăn” do vậy nên ưu tiên những dự án nào đang dở dang và chỉ cần thêm một chút là hoàn thành, được đi vào thực tế thì làm ngay. Hoặc những dự án là động lực của tăng trưởng, có khả năng sinh lời…

Ngoài ra, ông nhận định cũng cần có khoản đầu tư để hỗ trợ cho những khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai trong bối cảnh khí hậu đang ngày một biến đổi bất thường.

Vì sao nơi bội thu, nơi phải… giải cứu?

Những gam màu trái ngược

Vụ vải thiều 2018 của tỉnh Bắc Giang đạt sản lượng 215.800 tấn, tổng giá trị khoảng 5.755 tỷ đồng. Đây là con số kỷ lục trong hơn 50 năm nay trên vùng đất vải thiều. Vải thiều đã được xuất khẩu sang nhiều nước và vùng lãnh thổ, trong số này có những thị trường lớn và “khó tính” như EU, Nga, Mỹ, Canada, Nhật Bản… với sản lượng hơn đạt 97.100 tấn (chiếm 45% tổng sản lượng), giá trị xuất khẩu 170,5 triệu USD.

Thị trường tiêu thụ vải thiều trong nước đạt 118.700 tấn (chiếm 55% tổng sản lượng vải). Trong đó tập trung ở các tỉnh lân cận phía Bắc cùng các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, TPHCM… Bên cạnh các chợ đầu mối, những trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi và một số siêu thị như Coop.Mart, Happro cũng là nơi bao tiêu các sản phẩm vải thiều.

Nông sản Việt: Vì sao nơi bội thu, nơi phải... giải cứu? - Ảnh 1.

Vụ vải thiều 2018, tỉnh Bắc Giang đạt doanh thu cao kỷ lục trong hơn 50 năm nay.

Không chỉ thanh long, thị trường nông sản Việt trải qua nhiều những cuộc “giải cứu” từ dưa hấu đến hành tím, mía đường… Qua các cuộc “giải cứu” đã bộc lộ điểm yếu nhất trong sản xuất và tiêu thụ nông sản đó là công tác dự báo thị trường, liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ.Trái với một mùa vải bộ thu, đầu tháng 10/2018, thanh long mất giá thê thảm, giảm từ 20.000 – 25.000 đồng/kg xuống còn 2.000-3.500 đồng/kg, khiến nông dân các tỉnh Bình Thuận, Long An… lao đao. Nhiều nhà vườn đã lỡ thu hoạch thanh long mà không bán hết phải đổ bỏ hoặc cho gia súc ăn. Cũng có nhiều nhà không thu hoạch mà để trái chín đầy vườn vì có hái cũng không bán được, mà bán thì giá bán cũng không đáng so với chi phí nhân công thu hoạch.

Ông Lã Văn Bắc, ở xã Vĩnh Hảo (huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang) – một nhà vườn trồng cam chia sẻ, hiện người dân vẫn đang trồng trọt và chăn nuôi theo năng lực của từng hộ gia đình, vốn vay được bao nhiêu thì làm bấy nhiêu. Thường thì không có sự liên kết với doanh nghiệp, hay các hộ nông dân khác. Nhà này thấy nhà kia trồng cây tốt, thu hoạch bán được giá là vụ sau lại chuyển đổi sang trồng theo.

Tuy duy về sản xuất và tiêu thụ nông sản của người dân vẫn dừng ở “giá tốt thì trồng” chứ không có thông tin thị trường định hướng cho tổ chức sản xuất.

Bị động với thị trường

Thông kê của Hiệp hội Thương mại hoa quả Trung Quốc – Đông Nam Á khu vực Bằng Tường, vào đầu tháng 10 hàng năm, thanh long của Việt Nam xuất khẩu sang khá ít, chỉ khoảng 50-60 xe/ngày (container 20 tấn). Tuy nhiên năm nay, do lượng thanh long giao mùa từ Việt Nam tăng mạnh nên mỗi ngày vẫn có tới khoảng 100 xe thanh long, điều này khiến giá bị giảm.

Nông sản Việt: Vì sao nơi bội thu, nơi phải... giải cứu? - Ảnh 2.
Vào đầu tháng 10/2018, người dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đổ bỏ thanh long bị ế.

Nếu như trước đây, thị trường thanh long Trung Quốc gần như Việt Nam “độc chiếm” thì năm nay thanh long Việt Nam đang chịu cạnh tranh với thanh long được trồng tại Trung Quốc. Hiện đã có 8 tỉnh của nước này trồng thanh long với khoảng trên 20.000 ha, nhiều nhất tại Quảng Tây, Quảng Đông, Quý Châu, Hải Nam, Vân Nam… và diện tích đang không ngừng tăng lên.

Như vậy, nguyên nhân khiến thanh long Việt Nam mất giá về cơ bản là do nguồn cung vượt cầu. Ngoài ra, do thu hoạch sớm, chất lượng thanh long chưa đạt cũng khiến giá thanh long không còn được như kỳ vọng.

Câu chuyện về giá thanh long vẫn là bài toán thị trường, tiêu thụ sản phẩm với nông sản Việt. Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, dự báo thông tin thị trường, đánh giá nhu cầu thì vai trò chính là của cơ quan chức năng. Người dân từ đó nắm bắt thông tin và điều chỉnh sản xuất, để người dân tự đánh giá thị trường là không thể. Do đó, khi nông sản dư thừa một phần trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước.

“Vấn đề tổ chức các kênh phân phối hàng nông sản chưa tốt, nông sản phải qua quá nhiều kênh trung gian, lợi ích thuộc về thương lái. Ngoài thị trường xuất khẩu thì không thể xem nhẹ thị trường nội địa với 90 triệu dân, đây là nguồn tiêu thụ khá ổn định. Một thực tế, đa số người Việt Nam lại chưa được mua những nông sản ngon do nông dân Việt sản xuất” – ông Ngô Trí Long nói./.

Cứ 1 doanh nghiệp lập mới lại có gần 1 rời thị trường

Theo số liệu mới công bố từ Cục Đăng ký quản lý kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 10 năm 2018, số doanh nghiệp được thành lập mới cả nước là 13.000 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký là 152.541 tỷ đồng – tăng 16,5% về số doanh nghiệp và tăng 27,9% về số vốn đăng ký.

Số lập mới tương đương số ngừng kinh doanh

Luỹ kế 10 tháng năm 2018, cả nước có 109.611 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 4,3% về số doanh nghiệp và tăng 9,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017.

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng năm là 3,1 triệu tỷ đồng, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 1,1 triệu tỷ đồng của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và 2 triệu tỷ đồng (tăng 44,6%) thông qua 35.838 lượt đăng ký tăng vốn của các doanh nghiệp đang hoạt động (tăng 21,4%).

Trong 10 tháng năm 2018, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 27.935 doanh nghiệp, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, theo Cục Đăng ký quản lý kinh doanh, tổng số lượng doanh nghiệp đăng ký ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể và doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 10 tháng năm 2018 tăng cao đáng kể so với cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2014-2018; trong đó, tăng mạnh nhất là số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể.

Cụ thể, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn của cả nước là 24.467 doanh nghiệp, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Có 53.937 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 62,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó có 37.722 doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký và 16.215 doanh nghiệp chờ giải thể.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 10 tháng năm 2018 của cả nước là 13.307 doanh nghiệp, tăng 35,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Tổng số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 10 tháng năm 2018 của cả nước là 91.711 doanh nghiệp.

Như vậy, 10 tháng qua, cứ 1 doanh nghiệp được thành lập mới thì cùng với đó, có xấp xỉ 1 doanh nghiệp chuẩn bị hoặc đã rời bỏ thị trường.

10 tháng 2018: Cứ 1 doanh nghiệp lập mới lại có gần 1 rời thị trường - Ảnh 1.

So sánh tình hình doanh nghiệp ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, hoàn tất giải thể từ năm 2014-2018.

“Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể luôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động. Điều này một mặt thể hiện ý thức tuân thủ quy định về đăng ký tạm ngừng hoạt động của doanh nghiệp còn kém; mặt khác, cho thấy điểm yếu trong công tác hậu kiểm”, Cục Đăng ký quản lý kinh doanh cho biết.

Doanh nghiệp bất động sản có tỷ lệ thành lập mới cao nhất

Phân theo lĩnh vực hoạt động, tỷ lệ doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm 2017 ở 12/17 lĩnh vực kinh doanh chính, trong đó, nổi bật có ngành kinh doanh bất động sản tăng 42,5%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 25,6%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 24,7%.

Các ngành nghề có số doanh nghiệp mới giảm so với cùng kỳ năm trước là: Vận tải kho bãi giảm 20,3%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 9,7%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản giảm 6,6%; Thông tin và truyền thông giảm 4,8%; Khai khoáng giảm 2,8%.

Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tập trung nhiều nhất ở các ngành: Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ôtô, xe máy có 38.121 doanh nghiệp, chiếm 34,8%; Xây dựng có 14.136 doanh nghiệp, chiếm 12,9%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 13.526 doanh nghiệp, chiếm 12,3%.

Các ngành nghề có số vốn đăng ký lớn nhất là: Kinh doanh bất động sản có 332.354 tỷ đồng, chiếm 29,8% trên tổng số vốn đăng ký; Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ôtô, xe máy có 173.783 tỷ đồng, chiếm 15,6%; Xây dựng có 148.344 tỷ đồng, chiếm 13,3%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 129.766 tỷ đồng, chiếm 11,6%.

10 tháng 2018: Cứ 1 doanh nghiệp lập mới lại có gần 1 rời thị trường - Ảnh 2.

10 ngành nghề có số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể cao nhất trong 10 tháng năm 2018.

Tuy nhiên, Cục Đăng ký quản lý kinh doanh cũng nhấn mạnh, tất cả 17 ngành, nghề kinh doanh chính đều đang đối mặt với tình trạng số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể tăng cao trong 10 tháng đầu 2018.

5 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể cao nhất là: Hà Nội (17.334), Thành phố Hồ Chí Minh (14.918), Đà Nẵng (1.559), Bình Dương (1.297), Thanh Hóa (1.263).

5 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có số lượng doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể cao nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh (3.382), Quảng Nam (2.240), hà Nội (1.325), Bắc Ninh (438), Khánh Hòa (384).

Đại biểu “sốt ruột” tiến độ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, Bộ trưởng GTVT thú thật nguyên nhân

Đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông: Tháng 9/2019 có bản vẽ thi công và dự toán

Nhận định đây là 1 trong 2 dự án trọng điểm quốc gia, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết Bộ GTVT rất tập trung đẩy nhanh tiến độ.

“Nhưng 3 năm qua, Bộ tiếp 112 đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kể cả Ban Kiểm tra Trung ương”, Bộ trưởng nói và cho biết các kết luận đều yêu cầu Bộ phải thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật.

Do đó, dự án dù muốn được đẩy nhanh nhưng buộc phải thực hện đúng các thủ tục, quy trình pháp luật và không được quyền sai sót.

Dự án đường cao tốc Bắc – Nam gồm 11 dự án thành phần, do đó, có rất nhiều công việc trong quá trình tư vấn, khảo sát, lựa chọn nhà thầu phù hợp. Tính đến thời điểm hiện tại, Bộ GTVT đã phê duyệt 5 dự án, 5 dự án còn lại đang trình Chính phủ. Như vậy, đến đầu tháng 11 sẽ có 10/11 dự án được phê duyệt, 1 dự án còn lại bị chậm tiến độ là cầu Mỹ Thuận 2 – là cầu lớn khiến khâu đấu thầu bị kéo dài.

Tuy nhiên, ông Thể cũng hứa là là trong năm 2018 sẽ phấn đấu phê duyệt đủ cả 11 dự án. Bộ trưởng cho biết khi phê duyệt xong, Bộ sẽ làm đúng quy trình là đấu thầu tư vấn lập thiết kế kỹ thuật và dự án. Tiếp theo sẽ hoàn chỉnh hồ sơ kỹ thuật dự án và tiến hành lập bản vẽ thi công và dự toán.

Mốc thời gian cụ thể được ông cho biết cơ bản là trong tháng 9/2019 sẽ xong phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán. Việc thi công sẽ được thực hiện trong 2 năm 2020 – 2021. Riêng về giải phóng mặt bằng sẽ được Bộ GTVT giao cho địa phương vào đầu năm 2019

Tháng 10/2019 báo cáo Quốc hội về sân bay Long Thành

Đối với sân bay Long Thành, Bộ trưởng Thể cho biết kể từ khi Quốc hội thống nhất tách dự án giải phóng bằng thành 1 dự án riêng (tháng 10/2017), giao UBND tỉnh Đồng Nai thực hiện, Bộ và UBND tỉnh này đã thực hiện song song hai nhiệm vụ.

Cụ thể, về tiến độ giải phóng mặt bằng, tháng 3/2018, UBND tỉnh Đồng Nam trình Chính phủ lần đầu tiên về dự án. Đến tháng 7/2018, UBND Đồng Nai tiếp tục trình lên báo cáo lần 2.

“25 thành viên của Hội đồng thẩm định Quốc gia đã thống nhất ý kiến và trình Chính phủ hồ sơ”, ông Thể nói và cho biết đầu tháng 11 Chính phủ sẽ phê duyệt dự án. Sau khi được phê duyệt, UBND tỉnh Đồng Nai sẽ tiến hành kiểm đếm và chi trả đền bù giải phóng mặt bằng.

Đối với công việc của Bộ GTVT, Bộ đã triển khai đấu thầu quốc tế, lập dự án tổng thể giai đoạn 1 cho sân bay.

“Từ tháng 1 – tháng 6 thì đấu thấu quốc tế, sau tháng 6 ký hợp đồng chính thức lập dự án với liên doanh 5 nhà thầu”, Bộ trưởng nói. Trong 5 nhà thầu, có 3 nhà thầu Nhật Bản và 2 nhà thầu trong nước. Các đơn vị này đang khẩn trương trong công tác lập dự án.

“Tháng 3/2019 sẽ đánh giá xong tác động về môi trường, tháng 7/2019 sẽ hoàn thành và báo cáo Quốc hội vào tháng 10/2019”, Bộ trưởng nói.

Giải trình thêm, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết tuy kinh phí đã được bố trí nhưng chưa sử dụng do thời điểm này vẫn đang tập trung vào khảo sát, thiết kế… cho 2 dự án.

Ngân sách cân đối vẫn phụ thuộc nhiều vào bán đất, bán tài sản công

Nỗi lo ngân sách nhà nước trong trung và dài hạn 

Đây không phải là lần đầu tiên đại biểu Vũ Tiến Lộc đưa ra nhận xét này. Tại kỳ họp Quốc hội hồi tháng 5 năm nay, ông Lộc cũng chỉ ra rằng việc cân bằng ngân sách, khống chế nợ công được thực hiện bằng các khoản thu một lần như bán đất, tài nguyên, bán tài sản công, thu từ cổ tức doanh nghiệp.

Nguồn thu chính từ các hoạt động kinh tế điển hình như thuế đối với khu vực doanh nghiệp có dấu hiệu thiếu ổn định, không đạt dự toán, thậm chí sụt giảm. Trong khi đó, tỷ lệ chi thường xuyên vẫn cao, đạt đến 60%…

Chính vì vậy, nhìn sâu hơn trong bức tranh ngân sách nhà nước, dù có nhiều chuyển biến như tỷ lệ thâm hụt không còn vượt dự toán, nợ công/GDP giảm dần, kỳ hạn vay nợ dài hơn… thì sự bền vững vẫn chưa đạt được.

“Với tình trạng ngân sách còn khó khăn như vậy, tôi đề nghị dùng các khoản thu ngân sách nhà nước theo dự toán hàng năm để giảm nợ công, giảm áp lực trả nợ chứ không dùng để tiếp tục tăng chi như hiện nay”, ông Lộc nói.

Ở mặt tích cực, vị đại biểu này nhận xét sự lo lắng tổng thể về cân đối ngân sách đã không còn lớn như các năm trước. Nhưng để yên tâm cho trung và dài hạn, ông cho rằng cần có những giải pháp căn cơ nhằm đạt được cân đối tài chính quốc gia.

Cụ thể, Việt Nam cần nỗ lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh để tăng thu song hành với quyết tâm cắt giảm bộ máy nhà nước ở mức hợp lý nhằm giảm chi thường xuyên xuống còn mức dưới 50% ngân sách.

Tượng đài, quảng trường vẫn được xây dựng nhiều 

Một vấn đề khác của nền tài chính quốc gia cần quan tâm là hiệu quả đầu tư công. Ông Lộc nhấn mạnh đây là vấn đề dai dẳng trong nhiều năm nhưng chưa được cải thiện.

Báo cáo của Chính phủ dù cho biết hệ số ICOR đã có giảm, từ 6,36% giai đoạn 2011 – 2014 xuống còn 6,11% giai đoạn 2015 – 2017 nhưng mức giảm không đáng kể.

“Việc phải tốn 6 đồng đầu tư mới có 1 đồng tăng trưởng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn còn rất thấp. Trên thực tế còn nhiều dự án chưa có tính cấp thiết hoặc tính hiệu quả sử dụng không cao như tượng đài, quảng trường đang được xây dựng”, ông nói.

Theo ông, việc phân bổ nguồn vốn đầu tư vẫn đang theo nguyên tắc bình quân chủ nghĩa, mỗi địa phương ngành một ít chứ không dựa trên hiệu quả tổng thể của nền kinh tế quốc dân. Do vậy, tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, kém hiệu quả còn phổ biến.

“Các dự án đầu tư bị đội vốn, chậm tiến độ có thể kể ra không biết bao nhiêu”, ông nói.

Ngoài những nguyên nhân kể trên, còn có cả vấn đề do chính quyền không đủ vốn đối ứng, thậm chí không có tiền trả nợ đọng cho doanh nghiệp hay ứng tiền để xây dựng dự án trước đó. Vì vậy, đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ khó khăn, theo ông Lộc nhận xét.

Do đó, ông đề nghị ưu tiên trả nợ đọng trước khi bố trí vốn cho các dự án đầu tư mới để giải quyết các tình trạng này.

Mặt khác, vị đại biểu của đoàn Thái Bình cũng lưu ý Chính phủ trong dự án Luật đầu tư công cần lưu ý đến việc quy trách nhiệm cho các đơn vị thực hiện, đảm bảo nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí. Đồng thời, ông cho rằng Chính phủ cũng nên sớm trình ra Luật về đối tác công tư nhằm thu hút khối tư nhân tham gia vào các lĩnh vực vận hành kinh tế xã hội khác thay vì chỉ hạ tầng như hiện nay.

Đua nhau xin mở sân bay quốc tế

“Gần đây, nhiều tỉnh đề xuất nâng cấp sân bay nội địa thành sân bay quốc tế và Bộ GTVT đã đồng ý về chủ trương này. Tuy nhiên, có lưu ý rằng theo Quy hoạch phát triển GTVT hàng không đã được Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2020 các sân bay Thọ Xuân, Đồng Hới, Tuy Hòa, Phù Cát và Liên Khương vẫn là sân bay nội địa. Cũng theo quy hoạch này, đến năm 2030 Việt Nam chỉ có thêm hai sân bay quốc tế nữa, trong đó có Long Thành” – trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, PGS-TS Nguyễn Thiện Tống cho biết như trên.

Muốn phát triển kinh tế, du lịch

Các tỉnh đề xuất nâng cấp, mở rộng từ sân bay nội địa thành sân bay quốc tế gồm Bình Định (sân bay Phù Cát), Phú Yên (sân bay Tuy Hòa), Lâm Đồng (sân bay Liên Khương). Trước đó là Thanh Hóa (sân bay Thọ Xuân) và Quảng Bình (sân bay Đồng Hới).

Trong đề xuất mở cảng hàng không (CHK) quốc tế, các địa phương đưa ra lập luận là do nhu cầu khách đi/đến tăng nhanh. Cùng đó, nếu tỉnh muốn triển khai các dự án phát triển kinh tế thì đường hàng không thuận tiện là một trong những tiêu chí để thu hút đầu tư . Đẩy mạnh phát triển du lịch cũng là một trong những lý do các tỉnh này đề xuất.

Ông Phạm Đại Dương, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, cho rằng đề xuất nâng cấp CHK Tuy Hòa từ sân bay nội địa lên CHK quốc tế đã bàn thảo tương đối lâu. Để thực hiện điều này, tỉnh có mấy việc cần làm như nhà ga phải sắp xếp lại để bố trí khu vực xuất nhập cảnh, hải quan, y tế,… Và Tổng Công ty CHK Việt Nam đang xin ý kiến bộ, ngành liên quan theo quy định về tiêu chuẩn CHK quốc tế.

“Muốn thu hút, phát triển du lịch cũng như các dự án khác thì cần có giao thông thuận tiện, đặc biệt là đường hàng không. Địa phương phải đồng hành cùng ngành hàng không như tăng cường biên chế cho hải quan, y tế, xuất nhập cảnh,…” – ông Dương nói.

Đua nhau xin mở sân bay quốc tế - Ảnh 1.

Nhiều tỉnh đề xuất mở rộng, nâng cấp sân bay nội địa thành sân bay quốc tế Ảnh: P.ĐIỀN

Đồng quan điểm, ông Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, đánh giá số khách đến Đà Lạt đang tăng nhanh. Do đó tỉnh đã có văn bản đề nghị Bộ GTVT xem xét, chấp thuận bổ sung quy hoạch CHK Liên Khương là CHK quốc tế giai đoạn năm 2020 định hướng đến năm 2030. “Hiện chúng tôi chờ Bộ GTVT có ý kiến phản hồi” – ông S nói.

Phía lãnh đạo tỉnh Bình Định cũng cho rằng sân bay Phù Cát đang dần quá tải, theo đó tỉnh đã có văn bản gửi Bộ GTVT đề nghị bổ sung quy hoạch CHK Phù Cát thành CHK quốc tế cùng giai đoạn 2020 định hướng 2030.

Chưa cần thiết nâng cấp!

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM về vấn đề này, nhiều chuyên gia hàng không phân tích: Để mở CHK quốc tế cần có rất nhiều tiêu chuẩn, trong đó lượng khách quốc tế là một tiêu chí quan trọng. Nếu chỉ có khách quốc tế vãng lai như thực trạng ở nhiều địa phương hiện nay thì việc nâng cấp này sẽ gây lãng phí.

3 tiêu chí để nâng cấp CHK nội địa thành CHK quốc tế được Bộ GTVT đưa ra là: Sân bay đặt tại trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, du lịch quốc gia; có nguồn khách quốc tế lớn; có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng.

“Nếu sân bay nội địa của các địa phương nêu trên quả thật quá tải thì chỉ cần mở rộng nhà ga hành khách, tăng chỗ đỗ máy bay chứ chưa cần phải nâng cấp thành sân bay quốc tế” – ông Nguyễn Thiện Tống nêu quan điểm.

Theo ông Tống, các địa phương cần nghiên cứu chi tiết để biết chính xác số khách quốc tế đến tỉnh nhà bằng chuyến bay nội địa nào từ các sân bay quốc tế khác trong nước. Số lượng hành khách quốc tế đó có gia tăng đáng kể nếu họ được bay thẳng đến sân bay “quốc tế” ở tỉnh nhà không. Nếu nhu cầu khách quốc tế bay trực tiếp không nhiều và hãng máy bay thấy không lợi về tài chính để mở đường bay thẳng thì không nên nâng cấp sân bay nội địa thành quốc tế.

Ông Tống phân tích trong một khu vực chỉ cần vài sân bay quốc tế là đủ vì các sân bay quốc tế đó trở thành sân bay trung chuyển, gom khách quốc tế đến từ nhiều nước để bay về từng sân bay nội địa ở tỉnh. Chuyến bay nội địa đến các sân bay quốc tế trong nước cũng chỉ mang ngược lại khách quốc tế cho sân bay trung chuyển để gom khách cho các chuyến bay quốc tế đi trở lại các nước thôi.

“Trường hợp này, sân bay Thọ Xuân quá gần sân bay quốc tế Nội Bài và Vinh; sân bay Đồng Hới quá gần sân bay Vinh và Phú Bài; sân bay Tuy Hòa rất gần sân bay quốc tế Cam Ranh; sân bay Phù Cát ở giữa hai sân bay quốc tế Cam Ranh và Đà Nẵng. Do đó, những sân bay trên không cần nâng cấp thành sân bay quốc tế” – ông Tống lập luận.

Riêng sân bay Liên Khương, ông Tống cho rằng tuy gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Cam Ranh nhưng lại có vai trò đặc biệt. Khách quốc tế nếu đi thẳng đến Liên Khương sẽ giúp giảm tải cho sân bay Tân Sơn Nhất đang quá tải. Khách quốc tế ở các nước Đông Nam Á muốn đi du lịch vùng Đà Lạt có thể đáp chuyến bay thẳng đến Liên Khương chứ không cần đến Cam Ranh rồi bay thêm chuyến nội địa nữa.

“Tóm lại, trong năm sân bay nói trên, chỉ sân bay Liên Khương nên được ưu tiên nâng cấp thành sân bay quốc tế” – ông Tống nói.

Công suất của các sân bay muốn nâng cấp

– CHK Tuy Hòa có 25 chuyến bay/ngày trên hai tuyến Tuy Hòa-Tân Sơn Nhất và Tuy Hòa-Nội Bài. Dự kiến trong năm 2018 tổng lượt khách qua cảng đạt 430.000 lượt so với năng lực thiết kế của cảng này là 550.000 khách/năm.

– CHK Liên Khương có công suất thiết kế hai triệu khách/năm, đáp ứng phục vụ hơn 830 khách/giờ cao điểm. Hiện cảng này khai thác sáu đường bay nội địa đi/đến, hai đường bay quốc tế là Bangkok (Thái Lan), Vũ Hán (Trung Quốc).

– CHK Phù Cát được đầu tư bảy vị trí sân đỗ máy bay, đáp ứng phục vụ 600 hành khách/giờ cao điểm, khai thác với công suất đến 1,5 triệu hành khách/năm.

Hàn Quốc, Úc chỉ đầu tư vào sân bay, cao tốc còn Việt Nam mỗi tỉnh một dự án

Nhiều đại biểu cho rằng, tình trạng đầu tư công còn dàn trải, chưa có trọng điểm, nặng về cơ chế xin – cho. Có tình trạng phân bổ nguồn vốn cho các dự án không hiệu quả.

ĐB Vũ Thị Lưu Mai (Hà Nội) nêu thực tế hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết về đầu tư công trung hạn, tổng múc đầu tư 2 triệu tỷ đồng cho 9.620 dự án.

Theo ĐB, tình trạng nhiều dự án tại địa phương dở dang, thiếu vốn là rất lớn. Trái phiếu chính phủ, mỗi địa phương được phân bổ 1 dự án.

“Mong muốn của các địa phương là chính đáng, cần thiết, nhưng nợ công, bội chi lớn, bắt buộc chúng ta phải chọn tập trung, không dàn trải”

ĐBQH Vũ Thị Lưu Mai

ĐB Vũ Thị Lưu Mai chia sẻ kinh nghiệm rằng, các quốc gia khác chỉ tập trung vào các dự án lớn, có tính lan tỏa chứ không ở đâu mỗi tỉnh có một dự án như chúng ta.

“Australia đầu tư vào một vài dự án lớn như sân bay, đường cao tốc và Hàn Quốc cũng vậy. Còn lại là tư nhân làm”, ĐB ví dụ.

ĐB Vũ Thị Lưu Mai đề nghị cần cung cấp vốn cho các dự án theo thứ tự ưu tiên những dự án cấp thiết, trong đó ưu tiên đối với những lĩnh vực mà tư nhân không làm được.

“Mong muốn của các địa phương là chính đáng, cần thiết, nhưng nợ công, bội chi lớn, bắt buộc chúng ta phải chọn tập trung, không dàn trải. Công bằng không có nghĩa là cào bằng”, ĐB đoàn Hà Nội nhấn mạnh.

Cũng theo ĐB Vũ Thị Lưu Mai, cần phải xem xét kết quả đầu ra bởi không phải dự án nào hoàn thành cũng hiệu quả. Cần có đánh giá xem dự án nào hiệu quả cao, thấp hay không hiệu quả.

“Ngay từ khi lựa chọn dự án thì phải đánh giá đầu ra và hiệu quả. Tăng cường công tác giải trình và giám sát. Việc đánh giá những bất cập ngày hôm nay sẽ tạo tiền đề cho những bước hiệu quả trong thời gian tới”, bà Mai nói.

Quan điểm này của đại biểu Vũ Thị Lưu Mai cũng là quan điểm chung của nhiều đại biểu trong buổi thảo luận.

Cùng quan điểm trên, ĐB Nguyễn Trường Giang (Đăk Nông) cho rằng cân đối ngân sách Trung ương khó khăn, tỷ lệ bội chi ngân sách còn ở mức cao.

Vì thế, Chính phủ cần đánh giá kỹ lưỡng, báo cáo về khả năng cân đối nguồn vốn, sau đó mới đảm bảo tổng mức đầu tư công trung hạn không vượt kế hoạch 20.000 tỷ đồng.

Những công trình sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ khả năng thiếu vốn là khá rõ ràng, khi không phát hành được 60.000 tỷ đồng trái phiếu, mà vay nước ngoài phải có công trình cụ thể, có kế hoạch.

ĐB Nguyễn Trường Giang cũng lưu ý, thời gian đầu tư công trung hạn còn hơn 2 năm nên có thể có những vấn đề cấp bách, bất khả kháng phát sinh. Vì vậy, ông nhấn mạnh đến việc giữ kỹ luật, kỷ cương ngân sách Nhà nước.